Phân tích lý luận hàng hóa sức lao động trên thực tiễn hiện nay

Nội dung bài viết

Phân tích lý luận hàng hóa sức lao động trên thực tiễn hiện nay

Trong vài năm trở lại đây, Việt Nam ngày càng hòa nhập với đời sống kinh tế toàn cầu và kinh tế tri thức là sự phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại mà Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Con người luôn là yếu tố quan trọng và được xếp vào vị thế trung tâm vấn về đề lựa chọn loại sản phẩm lao động làm sao để phù hợp là một yêu cầu cấp bách của đời sống xã hội Việt Nam hiện tại. 

Dẫn nhập vấn đề phân tích lý luận hàng hóa sức lao động

Lý luận về thị trường hàng hoá, đặc biệt là sức lao động theo chủ nghĩa Mác đã bổ sung thêm những dẫn chứng là một cách khoa học và khách quan. Trên cơ sở ấy, đã hình thành những tiền đề vững chắc trong việc nghiên cứu để ứng dụng vào thực tế xã hội các biện pháp góp phần bình ổn và phát triển thị trường của mặt hàng đặc biệt này cùng một số vấn đề ảnh hưởng tới đó. Nhận ra tầm ảnh hưởng của vấn đề lao động, chúng ta hãy cùng phân tích lý luận hàng hóa sức lao động.

 Phân tích lý luận hàng hóa sức lao động

Theo C. Mác thì lao động là tất cả sức khoẻ cùng trí lực nằm trên thân thể, trong tâm hồn của một con người, thể lực và trí lực được con người mang ra vận dụng để nghiên cứu và chế tạo nên các loại hàng hoá có giá trị sử dụng. Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là thành phần chủ yếu của sản xuất nhưng không hẳn trong bất kì hoàn cảnh nào thì nó cũng là hàng hoá, sức lao động cũng có thể là hàng hóa nếu nó thỏa mãn các yêu cầu sau: 

Thứ nhất, người sử dụng cần phải tự tính trọng lượng thân thể để làm chủ sức lao động của mình, họ có khả năng bán sức lao động của mình như một sản phẩm có giá trị về mặt vật chất. 

Thứ hai, đối với những người có sức lao động mà chịu sự tước đoạt tất cả các vật dụng và tư liệu đời sống thì họ trở thành những “nô lệ ” của giai cấp vô sản. Để sinh tồn, người lao động bắt buộc phải bán sức lao động của bản thân để tự nuôi sống bản thân mình.

Áp dụng vào phân tích lý luận hàng hóa sức lao động hàng hóa sức lao động được chia thuộc tính

Thuộc tính của hàng hóa sức lao động, cũng giống như mọi loại hàng hóa khác trên thế giới, hàng hóa sức lao động cũng được phân chia rõ ràng bao gồm 2 thuộc tính đó chính là giá trị và giá trị sử dụng.

Giá trị của hàng hóa sức lao động được xác định bằng số giờ cần thiết cho sản xuất đề người sản xuất gắng sức làm việc. Sức lao động là năng lực làm việc gắn bó với sự sống còn của cá nhân. Vì vậy, cần đảm bảo trong sinh hoạt thường ngày của cá nhân phải luôn có các nguồn lực này. Do đó, giá trị của sức lao động là giá trị thiết yếu cho việc làm và duy trì sử dụng sức lao động. 

Giá trị hàng hoá sức lao động còn có giá trị các yếu tố cả vật chất lẫn tinh thần khác nhằm duy trì sản xuất sức lao động, đảm bảo hoạt động cuộc sống của chính bản thân người lao động. Thông qua việc bồi dưỡng đội ngũ người lao động để có kỹ năng nghề nghiệp phù hợp; giá trị những tài liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cho gia đình người lao động. Hay theo nghĩa khác, giá trị của hàng hóa sức lao động có đặc trưng là được xác định một cách gián tiếp qua những yếu tố vật chất và lao động.

C.Mác đã phân tích lý luận hàng hóa sức lao động tại thị trường lao động của Việt Nam hiện nay

“Thị trường lao động – đó là một cơ chế hoạt động tương hỗ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong một không gian kinh tế xác định, thể hiện những quan hệ kinh tế và phápgiữa họ với nhau” (theo nhà khoa học kinh tế học người Nga Kostin Leonit Alecxeevich). Hay hiểu rộng hơn nữa thì thị trường lao động là tổng hợp các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của những người có sức lao động (người lao động) và phía sở hữu nó gọi là (bên sử sức dụng lao động) trong một chỗ làm việc nhất định, khi đó sản phẩm và dịch vụ sẽ được tạo ra. 

Quá trình sở hữu sức lao động của con người sẽ chỉ phát sinh thông qua việc làm trong lao động sản xuất chứ không được thể hiện trên thị trường. Người sở hữu sức lao động sẽ được tạo ra môi trường làm việc, nơi đó anh ấy có thể làm việc, chứng minh năng lực, và nhận tham gia vào quá trình tự giải phóng sức lao động của bản thân. Đối với người sở hữu những người có sức lao động sẽ có cơ hội gia tăng lợi ích về mặt kinh tế.

Vận dụng phân tích lý luận hàng hóa sức lao động của C.Mác tại thị trường trường lao động của Việt Nam hiện nay

Trước thời kỳ hội nhập, đất nước ta phát triển nền hành chính theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, theo đó không thừa nhận kinh tế thị trường, thị trường tự do và các quan hệ hàng hóa – tiền tệ. Thị trường phân phối tự do chủ yếu hình thành tại khu vực ngoài nhà nước và doanh nghiệp tập thể. Việc quản lý kinh tế còn mang tính chất phi tập trung. 

Lao động không được xem là hàng hiếm vì không phải “giao dịch” trên thị trường tiền tệ. Từ năm 1986, việc phát triển nền kinh tế hàng hoá theo hướng xã hội chủ nghĩa đã góp phần chuyển đổi cơ bản vị thế của sản phẩm lao động đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, việc hiểu và áp dụng triết luận đối với hàng hóa lao động của C. Mác còn có một số hạn chế nhỏ, không phản ánh đầy đủ đòi hỏi của nền kinh tế thị trường hưởng XHCN đúng nghĩa trong quá trình hội nhập kinh tế.

 Cụ thể như: giá trị sử dụng của hàng hóa còn thấp gây hạn chế khả năng cạnh tranh của đất nước chúng ta trên thương trường thế giới. Giá trị của hàng hoá sức lao động, không hàm chứa đủ các điều kiện phục vụ cho nhu cầu tái sản xuất giải phóng sức lao động đối với một tỷ lệ đáng kể những người làm công hưởng lương. 

Hệ thống thông tin lao động xã hội cần được quản lý chặt chẽ, hệ thống giáo dục – đào tạo chưa đảm bảo tốt việc nâng cao nghề và trình độ nhân lực trong sự đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam giữa lúc kinh tế đang ngày càng phát triển. 

Nhìn nhận lại học thuyết sức lao động của C. Mác và ứng dụng cho thị trường sức lao động Việt Nam là một nội dung quan trọng trong chiến lược tăng trưởng kinh tế ở nước ta hiện tại. Từ đó, đề ra các biện pháp phát triển thị trường sức lao động trong nước.

Thứ nhất : Vận dụng lý luận vào thị trường lao động Việt Nam thích ứng với sự hoà nhập kinh tế toàn cầu và xu hướng tăng trưởng chung của nền kinh tế tri thức. Điều này đòi hỏi một nền giáo dục phổ thông phải đổi mới để hoàn thiện mạnh mẽ hơn cả về chất và lượng. Nhất là về trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, về tư cách đạo đức, văn hóa thì mới thể đào tạo, huấn luyện lực lượng lao động thích ứng với nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.

Thứ hai: Vận dụng lý luận đúng với thực tiễn điều kiện và bối cảnh Việt Nam. Với quyền lợi của chủ dụng lao động và người lao động phải được dung hoà, cân bằng. Tránh việc nảy sinh tạo xung đột căng thẳng cần tiếp tục xây dựng mối liên hệ gắn bộ thân thiện, hài hòa với chủ sử dụng và doanh nghiệp có thuê mướn lao động.

Thứ ba: Vận dụng lý luận về hàng hóa sức lao động thích ứng với tiến trình hòa nhập kinh tế toàn cầu và xu hướng tăng trưởng mới của ngành kinh tế Việt Nam. Điều này đòi hỏi một hệ thống đào tạo được mở rộng và hoàn thiện mạnh mẽ hơn cả trong cơ cấu và chất lượng, nhất là ở lĩnh vực học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, về tư cách đạo đức, văn hóa thì mới thực sự hỗ trợ, dẫn dắt người Việt Nam đến với nền kinh tế tri thức và hội nhập thế giới.

Thứ tư: Đẩy mạnh sự kết nối trên thị trường lao động bằng nhiều phương thức như phát triển mạng lưới trung tâm dịch vụ việc làm, công tác đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao năng lực. Cạnh tranh của một số DN xuất khẩu lao động xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, dự báo nhu cầu lao động, hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý về lao động, hoàn thiện bộ máy tổ chức để điều hành có hiệu quả với thị trường lao động…

Thứ năm: Bên cạnh vấn đề nâng cao năng suất lao động, cần phải có chính sách lương phù hợp để đảm bảo được cho công nhân lao động vừa đảm bảo đời sống sinh hoạt hằng ngày và phục vụ việc phát triển tái sản xuất sức lao động. Phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá của cả nước.

Tóm lại, việc hình thành và phát triển của thị trường lao động trên lãnh thổ Việt Nam là một quy luật tự nhiên. Việc công nhận sức lao động thành sản phẩm sẽ giúp người lao động và chủ động lao động có nhiều đóng góp thiết thực hơn nữa cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Có thể nói điều này khá mới mẻ đối với Việt Nam, bởi lẽ sự phát triển thị trưởng việc làm là rất nhỏ tại một số khu vực nông thôn hay ở các thành phố lớn. Việt nam đã tham gia vào WTO, đây là thời cơ và cũng là thử thách to lớn với Việt Nam. Vì vậy, để sinh tồn và phát triển đất nước giữa một môi trường vô cùng khốc liệt đòi hỏi mỗi doanh nghiệp Việt Nam phải có những chính sách phù hợp nhằm tăng cao tính cạnh trị của hàng hóa, cụ thể là sản phẩm lao động. 

Kết luận

Do vậy, khi phân tích lý luận hàng hóa sức lao động đòi hỏi  phải vận dụng sáng tạo lý thuyết về hàng lao động của C.Mác và thực tiễn Việt Nam một cách có hệ thống để đem đến những nhãn lực có trình độ chuyên môn, phẩm chất cao nhằm đáp ứng hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước nhà trong thời kỳ mới.

Xem thêm: Phân tích nhân vật ông Sáu trong tác phẩm chiếc lược ngà

Văn Học -