Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu ngắn gọn nhất

Tố Hữu đã thể hiện thành công cảm xúc của mình qua phân tích bài thơ từ ấy của Tố Hữu. Bài thơ thể hiện niềm tin yêu của nhà thơ với Đảng cộng sản. Ông vui sướng khi được đi theo lý tưởng của mình. Đây cũng chính là lý tưởng mà ông say mê, phấn đấu ngày đêm và cuối cùng đã đạt được.

Nội dung bài viết

Dàn ý phân tích bài thơ Từ ấy (Tố Hữu)

Dưới đây là dàn ý phân tích bài thơ Từ ấy (Tố Hữu) giúp bạn đọc dễ dàng viết bài phân tích chi tiết và có thể dùng làm tài liệu tham khảo để hiểu rõ hơn về nội dung tác phẩm.

Mở bài Từ ấy ngắn gọn

– Giới thiệu đôi nét về tác giả Tố Hữu và bài thơ Từ ấy.

– Tóm tắt nội dung chính bài thơ.

Thân bài phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu

Khổ thơ đầu: bộc lộ niềm vui sướng say mê của nhà thơ khi bắt gặp ánh sáng lí tưởng của Đảng.

Khổ thơ tiếp: những nhận thức mới mẻ về lẽ sống mà nhà thơ ngộ ra.

Khổ thơ cuối: sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của Tố Hữu đối với thiên nhiên, đất nước.

Đánh giá: Ý nghĩa sâu sắc mà nội dung truyền tải.

Nêu lên những đặc sắc nghệ thuật: nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, điệp từ ngữ….

Kết bài Từ ấy ngắn gọn

– Tổng kết lại các biện pháp nghệ thuật đặc sắc nhất của bài thơ và ý nghĩa nhân văn của tác phẩm

– Liên hệ mở rộng các bài học cho bản thân và cho thế hệ trẻ ngày nay

Tổng hợp các dạng đề văn phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu

Dưới đây là tổng hợp các dạng đề văn phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu  để bạn đọc có thể tham khảo và sử dụng làm tư liệu phân tích trong quá trình học.

Đề bài: Viết đoạn văn cảm nhận bài thơ Từ ấy học sinh giỏi

Nhà thơ Tố Hữu sinh năm 1920 mất năm 2002. Quê gốc của Tố Hữu ở làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông bắt đầu tham gia phong trào đấu tranh cách mạng từ khi còn rất nhỏ, cụ thể từ năm 12 tuổi. Do đó, các chặng đường của ông đều gắn bó với quá trình cách mạng gian lao, khổ cực và cả những niềm vui chiến thắng.

Với phong cách thơ mang tính chất trữ tình chính trị sâu sắc và tính dân tộc đậm đà Tố Hữu có nhiều tác phẩm hay và sâu sắc để lại nhiều ấn tượng trong lòng độc giả. Một trong những tác phẩm đó không thể không kể đến bà thơ “Từ ấy”. Bài thơ được ông sáng tác năm 1938 thời điểm này nhà thơ được kết nạp vào hàng ngũ Đảng Cộng sản. Cũng chính là ngày mà ông mong chờ nhất ngày ông được đứng cùng những đồng đội có chung lý tưởng cao đẹp. Nội dung bài thơ Từ ấy chính là đánh dấu kỷ niệm đầy ý nghĩa và cảm xúc của tác giả trong sự nghiệp cách mạng của mình.

Mở bài Từ ấy, ta có thể thấy được tâm trạng xúc động nghẹn ngào của Tố Hữu khi được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng Sản. Cảm xúc của ông sâu lắng không nói nên lời, dồn nén trong hai từ “Từ ấy”.

Tác giả phấn khích đến nỗi thấy cả nắng hạ trong tâm trí mình “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ”. Hình ảnh ẩn dụ nắng hạ thật độc đáo, nặng hạ ánh nắng rực rỡ, dịu dàng của mùa hè. Ánh nắng “bừng” chiếu vào trong tâm hồn một người thanh niên trẻ đang tràn đầy sức sống và tin yêu với cuộc đời.  Từ “bừng” đã làm sáng lên cả bài thơ. Giống như ta bị lạc trong hang tối không tìm thấy lối ra nhưng lại thấy được ánh sáng nơi cuối đường. Như thấy được cả sự sống của nhà thơ vậy.

Nối tiếp nắng hạ, lại một hình ảnh ẩn dụ độc đáo và sáng tạo nữa được tác giả sử dụng qua câu thơ:

Mặt trời chân lý chói qua tim”

Nếu mặt trời của tự nhiên chiếu sáng vạn vật, cỏ cây muôn thú. Thì “ mặt trời chân lý” lại “ chói qua tim”. Mặt trời chân lý đã giúp cho chàng thanh niên tìm thấy được chân lý của cuộc đời mình và cả dân tộc Việt Nam. Giúp cho tác giả có thể sống một đời thật ý nghĩa với lý tưởng mình đang theo đuổi.

Không chỉ dừng lại ở đó, tác giả vẫn không giấu nổi cảm xúc của mình, ông hân hoan như một đứa trẻ được mẹ được chơi đùa, ông thấy tâm hồn mình như được sống lại qua 2 câu thơ sau:

“Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim…”

Nhà thơ đã tinh tế so sánh tâm hồn mình như một vườn hoa lá với vô vàn những loài hoa khác nhau. Với mỗi loài hoa thể hiện một nét đẹp riêng và tỏa ra những mùi hương thật quyến rũ đậm đà. Chính vì sự hấp dẫn của vườn hoa ấy đã thu hút rất nhiều loài chim đến và cùng hót vang rộn ràng.

Ta tiếp tục cảm nhận bài thơ Từ ấy qua khổ thơ 2 của Từ ấy (Tố Hữu). Sau khi đã ổn định được cảm xúc của mình, nhà thơ biết mình cần phải làm gì sao cho xứng đáng với vị trí mình đang đứng. Do đó, ông đã “ buộc lòng tôi với mọi người”.

Trước khi trở thành một nhà cách mạng ông chỉ là một tiểu tư sản nhỏ bé với tầm nhìn hạn hẹp. Nhưng giờ ông đã là nhà cách mạng, ông mang trên mình trách nhiệm lớn lao, mang trong mình những lý tưởng cao đẹp, tâm hồn phơi phới muốn cống hiến cho dân tộc. Nên Tố Hữu không ngần ngại mà tự nguyện “buộc” mình với nhân dân.

Cụ thể, Tố Hữu muốn buộc mình với đồng bào để:

“Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Nhà thơ muốn được cùng nhân dân trải qua những khó khăn, gian khó với nhân dân. Muốn hiểu thêm những nỗi khổ người dân đang phải chịu. Khát khao muốn được gần gũi và thấu hiểu đồng bào. Đồng thời, dùng chính lý tưởng cao đẹp của mình để giúp đỡ đồng bào. Và mong muốn lớn nhất của Tố Hữu chính là giúp nhân dân có một cuộc sống tốt đẹp, yên bình, đời sống được cải thiện hơn. Ông không muốn nhân dân của mình chịu khổ nữa vì những gì chiến tranh mang lại quá tàn nhẫn. Nhân dân phải được sống đúng nghĩa, ấm no và hạnh phúc.

Việc Tố Hữu sử dụng động từ “để” lên đầu câu thơ đồng thời sử dụng lặp lại ở câu thơ tiếp theo không chỉ thể hiện sự tài tình trong phong cách dùng từ của mình. Mà còn muốn nhấn mạnh ý chí quyết tâm muốn hòa mình cùng nhân dân. Muốn một lòng chung sức trải qua những thăng trầm, vui buồn, sướng khổ cùng dân tộc.

Đến kết bài Từ ấy chúng ta đều thấy tác giả đã trở thành một con người hoàn toàn mới. Một thanh niên cách mạng trưởng thành và chín chắn hơn. Giờ đây tác giả vui sướng biết bao khi mình đã trở thành:

“Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ”

Tố Hữu không chỉ là con của bố mẹ ruột ông nữa mà giờ đây ông chính là con của vạn nhà. Bất kỳ người đồng bào nào cũng sẽ là cha mẹ, là anh em của ông. Còn với những đứa trẻ nhỏ ông chính là một người anh. Với trọng trách yêu thương, dạy bảo các em nên người. Ở khổ thơ thứ 2 ta thấy tác giả lặp đi lặp lại từ “Để” nhằm muốn nhấn mạnh tinh thần quyết tâm muốn hòa chung với đời sống hàng ngày của nhân dân, muốn cùng nhân dân đi qua những năm tháng tươi đẹp ý nghĩa của cuộc đời.

Thì ở khổ thơ cuối ta lại thấy tác giả sử dụng một loạt từ “Là” lặp lại. Với việc kết hợp biện pháp điệp từ “ Là” cùng với các từ xưng hô “ con, anh, em” tác giả muốn nhấn mạnh rằng giờ mình đã là một con người mới, một người trưởng thành hơn. Tác giả nguyện đồng lòng gắn bó cùng đồng bào, coi mình như một thành viên trong gia đình của người dân, là một phần của dân tộc.

Đồng thời qua phân tích Từ ấy nâng cao ta có thể thấy được niềm vui sướng của tác giả khi tìm thấy lý tưởng của cuộc đời mình. Một lý tưởng cao đẹp không gì có thể sánh bằng. Lý tưởng mà mang lại hạnh phúc, yên vui cho đồng bào. Vì lý tưởng này ông nguyện làm đủ điều chỉ cần giúp được cho đất nước và người dân. Việc được giúp đỡ người dân chính là việc ông thể hiện niềm vui của mình. Cũng như lời cảm ơn vì Đảng Cộng Sản đã cho ông cơ hội được tham gia tổ chức danh giá này. Do đó, ông nguyện làm “người cù bất cù bơ” vì bình yê của Tổ Quốc.

Như vậy, chỉ với vỏn vẹn 12 câu thơ qua phân tích bài thơ từ ấy của Tố Hữu ta được cùng hòa chung niềm vui với nhà thơ, niềm vui khi được vinh dự đứng trong hàng ngũ Đảng Cộng Sản muôn năm. Niềm vui khi tìm thấy lý tưởng mình theo đuổi bấy lâu nay. Đồng thời phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu để thấy tâm trạng của một thanh niên say mê lý tưởng.

Niềm vui không nói nên lời ngẹn ngào trong 2 từ “Từ ấy” sau đó là sự phấn khích thấy tâm hồn như được thắp sáng trong vực sâu vô tận. Nhà thơ sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật xuất sắc như nhân hóa, ẩn dụ,… đây là cũng chính là một trong những đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm. Như những vườn hoa đa dạng sắc màu cùng ánh nắng rực rỡ mùa hạ. Như mặt trời chân lý chói qua trái tim người thanh niên nhỏ bé.

Đề bài: Viết đoạn văn ngắn phân tích nội dung bài thơ Từ ấy

Qua bài thơ Từ ấy, ta có thể thấy được những nội dung chính mà tác giả muốn truyền tải như sau:

Trước hết, nhà thơ ngợi ca lí tưởng Cách mạng đúng đắn của Đảng, nhà nước. Chính lí tưởng ấy đã soi sáng, giác ngộ những thanh niên, tiểu tư sản thời kì bấy giờ. Điều ấy như một chân lí mà nay tác giả mới được biết đến, được giác ngộ một cách sâu sắc. “Từ ấy” đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong cuộc đời của nhà thơ Tố Hữu.

Tiếp theo đó, bài thơ là lời tuyên ngôn sống hết mình vì lẽ sống, lí tưởng cao đẹp mà bản thân đã hiểu được. Ông nhận thức được rõ ràng trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng, của cái tôi riêng với cái ta chung. Từ đó, người thanh niên tuyên bố sẵn sàng hi sinh để bảo vệ lí tưởng cao đẹp, cũng như bảo vệ toàn vẹn non sông, lãnh thổ, quê hương mình. Ông nguyện gắn bó tuổi xuân với những người dân, người đồng bào đang phải chịu đựng bất công, khổ sở.

Cuối cùng, bài thơ thể hiện niềm vui, niềm say mê, ý thức tự nguyện gắn bó với đất nước, Cách mạng qua những lời thơ đậm chất trữ tình chính trị, ngôn ngữ giản dị, mộc mạc và nhịp điệu nhẹ nhàng, sâu lắng.

Đề bài: Viết bài văn phân tích Từ ấy nâng cao

Từ ấy là bài thơ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời thơ của Tố Hữu. Từ lâu ông đã sớm giác ngộ cách mạng và từ ấy sự nghiệp, thơ ca gắn liền với sự nghiệp cách mạng. Bài thơ được sáng tác sau một cuộc hội ngộ kì lạ cuẩ tác giả, tạo nên chất men say của tình yêu đằm thắm với lí tưởng cách mạng và cuộc đời.

Trước hết ở khổ 1, bài thơ bộc lộ niềm vui sướng, say mê khi bắt gặp ánh sáng lí tưởng của Đảng

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim”

Hai câu thơ đầu được viết theo bút pháp tự sự, nhà thơ kể về một kỉ niệm không thể nào quên của cuộc đời mình. Từ ấy là mốc thời gian có nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời cách mạng và đời thơ của Tố Hữu. Khi đó nhà thơ mới 18 tuổi, đang hoạt động tích cực trong Đoàn thanh niên cộng sản Huế. Ông đã được giác ngộ lí tưởng cộng sản, được kết nạp vào Đảng.

Được đứng vào hàng ngủ của những con người chiến đấu vì lí tưởng cao đẹp, để khi nhắm mắt xuôi tay không phải hổ thẹn bởi những năm tháng đã sống hoài, sống phí. Đó là lí tưởng cao đẹp, lí tưởng của một thời đại. Lí tưởng của Đảng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nhân cách, suy nghĩ, tư duy, hướng phấn đấu cho mỗi cá nhân. Bằng những hình ảnh ẩn dụ “nắng hạ, mặt trời chân lí,…” Tố Hữu khẳng định lí tưởng cộng sản như một nguồn sáng mới làm bừng sáng tâm hồn nhà thơ. Nguồn sáng ấy không phải là ánh thu vàng nhẹ hay xuân dịu dàng, mà là ánh sáng rực rỡ của một ngày nắng hạ

“Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim”

Hai câu thơ sau được viết bằng bút pháp trữ tình, lãng mạn cùng với những hình ảnh so sánh đã diễn tả cụ thể niềm vui sướng vô hạn của nhà thơ trong buổi đầu đến với lí tưởng cộng sản. Đó là một thế giới tràn đầy màu sắc, sức sống cùng với hương thơm của các loài hoa, vẻ tươi xanh cây lá, rộn ra tiếng chim ca hót…. Đối với vườn hoa lá ấy còn gì đáng quý hơn là ánh sáng mặt trời? Đối với tâm hồn người thanh niên đang “băn khoan đi kiếm lẽ yêu đời”, còn gì đáng quý hơn khi có lí tưởng cao đẹp soi sáng, dẫn dắt?

Tóm lại, Tố Hữu sung sướng đón nhận lí tưởng như cỏ cây, hoa lá đón nhận ánh sáng mặt trời. Chính lí tưởng cộng sản đã làm tâm hồn con người có ý nghĩa hơn. Nhưng Tố Hữu còn là một nhà thơ nên vẻ đẹp và cuộc sống mới ấy của tâm hồn cũng là vẻ đẹp và sức sống mới của hồn thơ.

Ở khổ thơ 2, nhà thơ bộc lộ những nhận thức mới mẻ về lẽ sống:

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi”

Trong quan niệm về lẽ sống, giai cấp tư sản và tiểu tư sản có phần đề cao cái tôi cá nhân, chủ nghĩa. Khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu khẳng định quan niệm mới về lẽ sống là sự gắn bó hài hòa giữa “cái tôi” cá nhân và “cái ta” chung của mọi người. Với động từ “buộc”, câu 1 là một ngoa dụ thể hiện ý thức tự nguyên sâu sắc và quyết tâm cao độ của Tố Hữu muốn vượt qua giới hạn của “cái tôi” cá nhân để sống chan hòa với mọi người.

Với từ “trang trải” ở câu 2, có thể liên tưởng tâm hồn nhà thơ trải rộng với cuộc đời. Câu thơ đã tạo ra khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của từng con người cụ thể.

“Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Hai câu thơ sau cho thấy tình yêu thương con người của Tố hữu không phải thứ tình thương chung chung mà là tình hữu ái giai cấp. Câu 3 khẳng định trong mối quan hệ với mọi người nói chung, nhà thơ đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ. Ở câu 4, khối đời là một ẩn dụ chỉ một khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ trong cuộc đời, đoàn kết chặt chẽ với nhau, cùng phần đấu vì một mục tiêu chung. Họ gắn kết với tinh thần quốc tế vô sản, gắn kết toàn dân tộc thành một khối thống nhất. Qqua đó, Tố Hữu cũng khẳng định mối liên hệ sâu sắc giữa văn học và cuộc sống, mà chủ yếu là cuộc sống của nhân dân.

Khổ 3 là sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của nhà thơ Tố Hữu đối với quê hương, đất nước:

“Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha”

Những điệp từ “là” cùng với các từ “con, em, anh” và số từ ước lệ “vạn” nhấn mạnh, khẳng định một tình cảm gia đình thật đầm ấm, thân thiết. Cho thấy nhà thơ đã cảm nhận sâu sắc bản thân mình là một thành viên của đại gia đình quần chúng lao khổ. Tấm lòng đồng cảm, xót thương của nhà thơ còn biểu hiện thật xúc động, chân thành khi nói tới những kiếp phôi phai (những người đau khổ, bất hạnh, những người lao động vất vả, thường xuyên dãi dầu mưa gió).

“Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm, cù bất cù bơ”

Với hình ảnh thơ tươi sáng, ngôn ngữ mộc mạc, giàu tính dân tộc, gợi cảm, giàu nhạc điệu, nhẹ nhàng sâu lắng, giọng thơ chân thành, sôi nổi, nồng nàn. Thơ gần gũi với hình thức thơ mới, dùng nhiều hình ảnh tượng trưng… đã để lại nhiều ấn tượng trong lòng độc giả bao thế hệ. Qua bài thơ, lớp trẻ càng thêm yêu thiên nhiên, đất nước và sống có mục đích, lí tưởng trong sáng hơn.

Đề bài: Viết đoạn văn phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu để thấy tâm trạng của một thanh niên say mê lý tưởng

Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành (1920 – 2002). Ông bắt đầu sự nghiệp văn học của mình với các tác phẩm thơ trữ tình chính trị, thể hiện lẽ sống lớn, thiên về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lạng mạn. Một trong các tác phẩm nổi tiếng của ông là bài thơ Từ ấy, thể hiện tâm trạng của một thanh niên say mê lý tưởng chính trị, lí tưởng Cách mạng, sẵn sàng hi sinh bảo vệ tổ quốc.

Trước hết ở khổ thơ một, nhà thơ nói về kỉ niệm khi lần đầu được giác ngộ lí tưởng:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim”

Đối với nhà thơ nguồn sáng mặt trời chân lí là mặt trời khác thường, một sự liên kết sáng tạo giữa hình ảnh và ngữ nghĩa: Nếu mặt trời của đời thường tỏa anh sáng, hơi ấm và sức sống thì Đảng cũng là nguồn sáng kì diệu, tỏa ra những tư tưởng đúng đắn, hợp lẽ phải, báo hiệu những điều tốt lành cho cuộc sống. Nhìn chung cách gọi như vậy thể hiện thái độ thành kính, ân tình

Thêm nữa, những động từ mạnh “bừng” (chỉ ảnh sáng phát ra đột ngột), “chói” (chỉ ánh sáng có sức xuyên mạnh) càng khẳng định, nhấn mạnh ánh sáng của lí tưởng cộng sản như một nguồn sáng mới, nguồn sáng vĩ đại làm bừng sáng cả trí tuệ, tâm hồn nhà thơ. Đảng đã hoàn toàn xua tan màn sương mù của ý thức tiểu tư sản, mở ra một chân trời mới của nhận thức, tư tưởng và tình cảm.

Ở những câu thơ tiếp theo là tiếng lòng của người thanh niên say mê lí tưởng:

“Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim”

Anh sáng của Đảng chiếu rọi từ trong sâu thẳm tâm hồn nhà thơ, đánh thức xúc cảm, tình yêu, sự gắn kết với cuộc đời. Nhà thơ sử dụng cụm từ “trong tôi”, “hồn tôi”. Đó là cõi sâu thẳm nhất từ đời sống bên trong con người. Khổ thơ mở đầu khẳng định vai trò ánh sáng lí tưởng đối với tâm hồn nhà thơ là tình yêu, niềm say mê của nhà thơ khi bắt gặp lí tưởng cộng sản. Một triết gia có câu: “Anh sẽ không làm được gì nếu như anh không có mục đích và anh sẽ không làm được gì cao cả nếu mục đích của anh thấp hèn”.

Cách mạng không đối lập với nghệ thuật. Trái lại, chính cách mạng đã khơi dậy một sức sống mới, đem lại một cảm hứng sáng tạo mới cho những hồn thơ:

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi”

Lí tưởng đó là con người gắn bó sâu sắc như một định mệnh với dân tộc mình, quê hương mình. Như vậy, mới vì nhân dân quên mình, hi sinh. Sự gắn kết không phải bên ngoài mà trong sâu thẳm trái tim, sâu thẳm tâm hồn. Đau cùng nỗi đau dân tộc, tổ quốc. Nên phải đấu tranh tận cùng để giành tự do, độc lập.

“Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Có thể hiểu: khi “cái tôi” chan hòa trong “cái ta”, khi cá nhân hòa mình vào một tập thể cùng chung lí tưởng thì sức mạnh của mỗi người sẽ được nhân lên gấp bội. Như vậy, nhà thơ Tố Hữu đã đặt mình giữa dòng đời, trong môi trường rộng lớn của quần chúng lao khổ. Ở đấy, Tố Hữu đã tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới không chỉ bằng nhận thức mà còn bằng tình cảm yêu mến, bằng sự giao cảm của những trái tim.

Ở khổ thơ cuối, lúc này người thanh niên say mê lí tưởng đã hiểu ra nhưng chân lí cao cả, gắn bản thân mình với đời sống quần chúng:

“Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha”

Trước khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu là một thanh niên tiểu tư sản. Lí tưởng cộng sản giúp nhà thơ không chỉ có được lẽ sống mới mà còn vượt qua tình cảm ích kỉ, hẹp hòi của giai cấp tiểu tư sản. Để từ đó có được tình hữu ái giai cấp với quần chúng lao khổ. Hôn thế, đó còn là tình thân yêu, ruột thịt. Qua những lời thơ “không áo cù bất cù bơ, kiếp phôi phai” ta cũng có thể thấy được lòng căm giặn của nhà thơ trước bao bất công, ngang trái của cuộc đời cũ.

“Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm, cù bất cù bơ”

Đến đây có thể thấy, nhà thơ đã đứng trên quan điểm của giai cấp vô sản, nhận thức sâu sắc về mối liên hệ giữa cá nhân với quần chúng lao khổ, với nhân loại cần lao. Thể hiện ý thức tự nguyện chiến đấu, hi sinh, bởi gia đình, đất nước đã hòa làm một. Bài thơ là lời tuyên ngôn cho tập “Từ ấy”, là lời tâm nguyện của người thanh niên yêu nước giác ngộ lí tưởng cộng sản.

Ngoài ra, qua phân tích bài thơ từ ấy của Tố Hữu ta có thể thấy được sự tài tình, độc đáo của Tố Hữu trong tác phẩm để làm nổi bật lên niềm hạnh phúc của ông khi được vào Đảng, được cống hiến sức mình cho nước nhà. Theo đó, là tinh thần quyết tâm nguyện hòa cùng nhân dân để cùng nhân dân đi qua những bão táp, gian khổ,cùng nhân dân xây dựng cuộc sống ấm no hơn. Đặc biệt hơn, Tố Hữu coi mình là một thành viên trong gia đình của nhân dân, với mỗi gia đình gánh vác một trọng trách riêng.

Xem thêm: Phân tích 12 câu thơ đầu của bài Trao duyên – Nguyễn Du

Phân Tích, Văn Học -